Trang

Slider Code Enter Here

MENU

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Messi - Từ “El Pulga” đến một huyền thoại

Messi - Từ “El Pulga” đến một huyền thoại 

Một cậu bé nhỏ con ngày nào Messi giờ đã trở thần tượng đương thời của bóng đá thế giới. Chỉ mới 24 tuổi, thậm chí Messi còn cả một tương lai trước mặt để trở thành một huyền thoại - cậu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại,vượt qua bậc tiền bối đồng hương Diego Maradona. Ở Messi, tín đồ túc cầu giáo có thể tìm thấy mọi phẩm chất của một cầu thủ vĩ đại: kỹ thuật, tốc độ, niềm đam mê và khát khao cống hiến. Ngoài những danh hiêu tập thể giành được cùng Barcelona, Messi còn liên tiếp giành được danh hiệu cá nhân như “Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới” năm 2009 và 2010 do FIFA bình chọn.

Luca Caioli, một trong những phóng viên thể thao hàng đầu châu Âu đã dựa trên những cứ liệu độc đáo và chân thực để kể về những dấu ấn trong những năm tháng đầu đời và bước đường sự nghiệp của Messi. Đó là những câu chuyện về cha mẹ, những người thân trong gia đình; các huấn luyện viên của anh ở Grandoli và Newell’s Old Boys; những tiếp xúc với HLV Rjikaard và Pep Guardiola khi ở Barcelona; mối quan hệ với Jorge Valdano và rất nhiều các đồng đội khác ở đội tuyển Argentina và Barca. Tác giả dành hẳn cả chương cuối để người hùng sân Camp Nou tự chia sẻ về cuộc đời, những băn khoằn, suy tư từ khi còn là một cậu bé cho tới khi đã nổi tiếng trên toàn thế giới.


Cuốn sách Messi - Từ “El Pulga” đến một huyền thoại thực sự là một bức tranh sống động và đầy chi tiết thú vị, hé lộ những thông tin ít người biết đến về cầu thủ tuyệt vời này. Đây thực sự là cuốn sách đáng đọc với tất cả những ai quan tâm đến bóng đá, đặc biệt là những fan ruột của môn thể thao vua nói chung, của Barca và Messi nói riêng.

Tác giả: Luca Caioli là một phóng viên thể thao người Italia, người rất nổi tiếng với chương trình ITV tại Anh và là tổng biên tập của Euronews TV tại Pháp. Ông chuyển đến Tây Ban Nha 5 năm trước đây và hiện tại đang là phóng viên của tạp chí Sky tại Italia.

Zamina mời các bạn đón đọc Messi - Từ “El Pulga” đến một huyền thoại!

Barca - Đường đến vinh quang - Graham Hunter

Barca - Đường đến vinh quang - Graham Hunter

Barcelona - câu lạc bộ bóng đá xuất sắc nhất thế giới hiện nay, với những cầu thủ vĩ đại nhất trong thế hệ của họ và có thể sẽ là vĩ đại nhất mọi thời đại. Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là những câu chuyện chưa kể về hành trình mà đội bóng xuất sắc nhất và được yêu thích nhất thế giới định nghĩa lại lối chơi môn thể thao vua, tạo nên một phong cách bóng đá làm nức lòng khán giả và lôi cuốn hàng triệu tín đồ túc cầu giáo.

Cuốn sách mở đầu bằng trận Chung kết C1 năm 2011 tại Wembley, trận cầu là tiền đề cho cuộc tranh cãi về việc liệu Barca có phải là đội bóng vĩ đại nhất thế giới ở thời điểm hiện tại và rồi lại tiếp tục đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Họ có phải là đội bóng vĩ đại nhất mọi thời đại không? Trong hành trình kiếm tìm đó, chúng ta cũng sẽ được khám phá những bí mật trong phòng thay đồ, tìm hiểu những điều ẩn chứa trong chiến lược phát triển đội bóng của huấn luyện viên Pep Guardiola cũng như câu chuyện vô cùng thú vị về những con người vĩ đại đã làm nên một phần lịch sử của Barca: Xavi, Andres Iniesta, Puyol, Pique…. và “huyền thoại tuổi 24” Lionel Messi.

“Chưa ai khiến chúng tôi phải vất vả đến thế, nhưng Barça xứng đáng với danh hiệu đó. Trong suốt sự nghiệp cầm quân của tôi, họ là đối thủ xuất sắc nhất mà chúng tôi từng đối mặt.” – Sir Alex Ferguson

“Điều vượt qua mọi lý lẽ hùng hồn nhất, thậm chí đối với cả những đội bóng từng là nạn nhân của đoàn quân Guardiola, đó là Barça đã mang đến ngọn lửa hừng hực nhiệt huyết cho nền bóng đá. Và chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ khiến tôi tin tưởng và dành tâm huyết cho cuốn sách này.” - Graham Hunter


Báo chí giới thiệu Barca - Đường đến vinh quang

Nếu bạn yêu bóng đá đẹp, bạn sẽ đọc cuốn sách này. "Ở Barcelona, đội bóng này là tất cả, là cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn, hy vọng và cả những khao khát chính trị về sự độc lập của xứ Catalan. Ở đây, bạn khó tìm những lá cờ hay hình vẽ về đội ở khắp nơi. Barca ở trong tim chúng tôi và hàng triệu người khác mà không cần phải nói tình yêu đó ra mồm. Barca đơn giản là tình yêu".

Chân dung của những trụ cột đội bóng được tái hiện một cách sinh động nhất, như câu chuyện về thiên tài Messi, người đến Camp Nou như một định mệnh (nhưng chuyện ấy sẽ không xảy ra và thế giới sẽ không có một ngôi sao chói sang đến thế nếu như không có sự tham gia một cách gay gắt của Rexach và bản "hợp đồng" trên khăn mùi xoa có chữ kí của ông). Triết lí bóng đá của Barca gắn liền với cái tên Cruyff, người đặt nền móng cho tư duy Barca hiện đại, lò La Masia và việc lựa chọn Pep Guardiola cũng như chân dung của anh được vẽ đẹp đẽ và chân thực trong từng trang sách.

Tôi tin rằng, Graham Hunter là một người hạnh phúc. Ông ở bên Barca ngần ấy năm, lăn lộn cùng họ, vui buồn cùng họ, tiếp cận với cá nhân nhiều ngôi sao và cả cầu thủ bình thường trong tập thể ấy, hiểu rõ mọi vấn đề của đội bóng từ sân tập, phòng thay quần áo của đội, đến sân đấu và cả những câu chuyện bên lề liên quan đến ban lãnh đạo Barca. Viết về đội bóng có lẽ là cách tốt nhất và duy nhất để chia sẻ với những người hâm mộ bóng đá nói chung, và yêu bóng đá đẹp và lãng mạn, thứ bóng đá ngày càng hiếm hoi hơn trong thời đại thương mại hóa và đầy rẫy thông tin đến mức bội thực như bây giờ.

Tôi đã đọc liền một hơi cuốn sách này trong một đêm không ngủ, và khi gấp lại những trang sách mà Graham Hunter viết lại, tôi ao ước làm được điều như ông: viết cả một cuốn sách dầy về một đội bóng mà ông đã đi theo trong một phần đời.

Guardiola đã đến và đã đi. Đội bóng bây giờ đã trong tay người phó của ông, Tito Vilanova. Đã xuất hiện những hoài nghi về việc liệu thời hoàng kim mà Guardiola đã tạo nên có còn tiếp tục, liệu lối đá tiqui-taca có còn được thực hiện sau khi Guardiola, người biến thứ bóng đá có vẻ như không tưởng ấy thành hiện thực, ra đi?

Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và thời gian sẽ trả lời, nhưng biểu tượng về một triết lí bóng đá đẹp, biết chiến thắng và đã chinh phục cả thế giới ấy thì vẫn tồn tại trong trái tim của biết bao con người.

Zamina mời các bạn đón đọc Barca - Đường đến vinh quang!

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Trai khôn không sợ cô đơn

Alpha Art – Trai khôn không sợ cô đơn hứa hẹn sẽ giống như một cuốn “bách khoa toàn thư”, nghệ thuật dành cho những người đàn ông mong muốn hoàn thiện mình.



Trong mỗi thế hệ luôn luôn có hai nhóm người...

Đầu tiên là số đông. Đối với họ, thế giới này thật hỗn loạn và đầy nuối tiếc. Họ sống gần hết cuộc đời luôn biết rằng có điều gì đó không ổn nhưng không thể tìm ra lý do. Sống với tư tưởng mình là người bình thường, họ không bao giờ thấy thỏa mãn và thảnh thơi với cuộc sống. Lo lắng lớn nhất của họ là phải sống trong tuyệt vọng và chết trong thất bại. Mỗi đêm giấc ngủ của họ ngập tràn những lo nghĩ về ngày mai đầy mệt mỏi và chán chường.

Còn một nhóm khác. Họ là thành phần ưu tú, là những Alpha. Họ hiểu rõ cách vạn vật tương tác. Họ tự do làm tất cả những thứ mà người khác không dám làm. Họ không sợ hãi. Họ có những người bạn mà bạn muốn có xung quanh. Họ có một cuộc sống mà bạn luôn khát khao. Tất cả những gì bạn mơ ước, họ biết cách để đạt được nó - nhanh hơn, dễ dàng hơn và khéo léo hơn. Mỗi đêm, họ đi ngủ trong hạnh phúc và sự hài lòng về cuộc sống. Mỗi buổi sáng thức giấc là một ngày mới đầy thú vị đang chờ đón họ.

Còn bạn, bạn thuộc nhóm nào?

Cuốn sách này sẽ thay đổi bạn. Chúng tôi biết điều đó. Những gì bạn sắp đọc đã thay đổi cuộc đời chúng tôi.

Alpha Art - Trai khôn không sợ cô đơn sẽ mang tới cho người đọc hai điểm nổi trội: Một là khả năng tự hoàn thiện bản thân, thay đổi tư duy và hành động để trở nên hấp dẫn hơn qua việc tự nhìn nhận những sai lầm trong cách hành xử. Hai là khả năng thấu hiểu tâm lý người đối diện và nâng cao kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với người khác giới. Với hai điểm này, bạn sẽ tự nhiên trở nên mạnh mẽ, quyết đoán và hấp dẫn hơn trong mắt tất cả mọi người, trong đó có cả những cô gái bạn thầm để ý.

Mong muốn của chúng tôi - Nexx và Joker - tác giả cuốn sách, là giúp đỡ tất cả những chàng trai tốt ở ngoài kia, những người có kiến thức và trình độ trong cả học tập và công việc, những người đáng được tôn trọng nhưng chỉ vì thiếu kỹ năng giao tiếp mà đôi khi trở thành kẻ thua cuộc hoặc thậm chí thành trò cười, đến mức cảm giác bế tắc trong cuộc sống. Mục tiêu của chúng tôi là giúp cho những người đàn ông như vậy hoàn thiện khả năng giao tiếp của mình. Giao tiếp là việc chúng ta đều phải làm hàng ngày, vậy tại sao không tự trang bị cho mình một kỹ năng hoàn hảo?

Ý tưởng giúp đỡ những chàng trai đến với tôi sau những dịp lễ Tết ở Việt Nam, Giáng Sinh, Valentine hay 8-3. Luôn có rất nhiều chàng trai vốn không dư dả gì, họ có lẽ phải tích góp cả tháng trời, hoặc vay mượn bạn bè để mua hoa mua quà và đưa cô gái mình thích đi chơi. Họ rất cố gắng để làm cho buổi hẹn hò trở nên vui vẻ hơn, nhưng thực tế là việc thiếu kỹ năng giao tiếp, kiến thức và kinh nghiệm khiến mọi nỗ lực của họ thất bại ê chề. Tệ hơn nữa, họ thất bại mà thậm chí không hiểu lý do là gì.

Có những người khác, cuộc sống rất đầy đủ và may mắn. Họ có tiền, có công việc tốt, có chỗ đứng trong xã hội và được người khác trọng vọng. Thế nhưng nhiều người trong số họ gặp vấn đề lớn khiến họ không thể trở thành một người đàn ông thực sự hấp dẫn, đó chính là sự bế tắc trong giao tiếp và ứng xử với phái yếu.

Thực tế, giao tiếp với phụ nữ là một trong những việc khó nhất đối với một người đàn ông. Chiến tranh, bệnh tật, khó khăn có thể không đáng sợ bằng ý tưởng bắt chuyện với cô gái mình thầm để ý từ lâu. Vì vậy nếu bạn có thể học, và thành công, tức là bạn đã vượt qua được thử thách mà 99% đàn ông trên thế giới đã thất bại. Tôi từng được nghe nhiều người nói rằng, một khi đã làm được việc khó nhất họ từng làm, đó là bắt chuyện với cô gái họ để ý và thành công, thì không việc gì có thể làm khó họ nữa. Hơn thế, một khi bạn có thể giao tiếp tốt với phụ nữ, thì việc giao tiếp với mọi người xung quanh cũng trở nên rất dễ dàng.

Cuốn sách này dành cho tất cả nam giới. Nếu bạn thực sự muốn thay đổi cuộc sống của bản thân theo hướng tốt đẹp hơn để cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện hơn với cuộc sống của mình, cuốn sách này chính là thứ bạn cần. Nếu bạn còn độc thân và muốn chinh phục một cô gái bạn đang để ý, cuốn sách này sẽ giúp bạn. Nếu bạn đang hẹn hò và mong mối quan hệ tiến thêm một bước nữa, cuốn sách này dành cho bạn. Nếu bạn đang yêu và muốn hiểu người bạn gái của mình hơn, bạn sẽ cần cuốn sách này. Nếu bạn mới chia tay và cần lấy lại sự tự tin và thăng bằng trong cuộc sống, bạn có thể tìm thấy lời khuyên từ Alpha Art.

Nếu bạn là nữ giới, bằng cách này hay cách khác đọc được cuốn sách này và nghĩ rằng đây là cuốn cẩm nang tuyệt mật, chỉ phục vụ riêng cho các ý đồ đen tối và xấu xa của đàn ông thì hãy suy nghĩ lại. Có thể bạn chưa hiểu nhưng đối với một người đàn ông, việc trau dồi kỹ năng giao tiếp và sự hấp dẫn với nữ giới là điều tuyệt vời dành cho cả hai phái.

Thử tưởng tượng hôm nay là tối cuối tuần và bạn trang điểm ăn mặc thật đẹp để đi chơi. Có thể bạn không muốn thừa nhận, nhưng tôi chắc chắn trong thâm tâm bạn rất mong đợi sẽ tình cờ gặp một anh chàng thật tuyệt, một người vô cùng thú vị và “chất”, bạn chắc chắn sẽ có một buổi tối thật tuyệt vời và đáng nhớ. Thế nhưng sự thật là bạn đi ngoài đường cả tối, bị hàng trăm cặp mắt hau háu dò xét nhưng thậm chí không nhận được một câu nói tử tế hoặc không ai làm bạn thấy vui và thoải mái. Bạn có thất vọng không? Tôi chắc chắn là CÓ!

Hoặc nếu bạn nhận lời đi chơi với một anh chàng. Bạn kỳ vọng nhiều vào mối quan hệ này bởi anh ta có vẻ cá tính và hấp dẫn. Để rồi khi trở về nhà bạn giậm chân bực bội vì đã phí phạm buổi tối thứ Bảy của mình cho một kẻ quá nhạt nhẽo và chỉ biết khoe khoang về mình. “Bố cái thằng dở hơi, biết thế đi ngồi trà chanh với mấy đứa kia có phải vui hơn bao nhiêu không?”- Bạn nghĩ.

Chính những lúc như vậy, điều đầu tiên xuất hiện trong đầu bạn là niềm mong ước tất cả những anh chàng xung quanh bạn đều đã đọc và thấm nhuần những gì được nói trong cuốn sách này. Để họ hiểu bạn nghĩ gì và muốn gì, và phải thế nào để cả hai cùng có những phút giây thú vị và vui vẻ nhất.

Hơn thế nữa, nếu bạn là một cô gái và đọc cuốn sách này, bạn sẽ nhận ra được những điểm mâu thuẫn thú vị và hài hước trong tâm lý phụ nữ, những sai lầm trong giao tiếp với những chàng trai mà bạn từng mắc phải. Và vì cuốn sách này nói về đàn ông, bạn sẽ dần nhận ra mẫu đàn ông mà bạn thích nhất, từ đó định hình “Mr.Right” của mình, học cách nhận ra trai đểu để tránh và biết cách thu hút chàng hoàng tử của mình khi bạn có cơ hội gặp chàng.

Suy cho cùng, một người đàn ông khi lớn lên được dạy rằng anh ta cần cố gắng trong cuộc sống để có thể kiếm được một người bạn đời tuyệt vời hơn, cho ra đời những đứa con xinh đẹp và thông minh hơn, có được một gia đình hoàn hảo hơn. Và chúng ta đã làm đúng như vậy. Chúng ta đã dành hầu hết thời gian đầu đời để học tập, sau đó dành cho công việc, tất cả chỉ với một mục đích vì tương lai. Nhưng học tập hay công việc mới chỉ là điều kiện cần, không ai dạy bạn khả năng hiểu tâm lý và kỹ năng giao tiếp tốt với mọi người dù đó là bạn bè, đồng nghiệp, người yêu hay vợ của mình trong tương lai. Đó mới chính là điều kiện đủ để bạn thực sự có một cuộc sống mãn nguyện, tìm được một người bạn đời hoàn hảo nhất để có được một gia đình hạnh phúc.

Hãy nhớ rằng, cuốn sách không được viết ra để bạn chỉ đọc một lần và thành công ngay lập tức. Điều này là không thể, nhất là đối với kỹ năng giao tiếp, bạn sẽ phải thử, phải thất bại, rút kinh nghiệm từ thất bại để thành công. Bạn có thể sẽ phải đọc đi đọc lại một vài phần trong cuốn sách này. Hãy đọc để những gì viết trong sách trở thành suy nghĩ, thói quen của chính bạn. Hãy kiên trì, chăm chỉ luyện tập và chắc chắn bạn sẽ thành công!

Zamina mời các bạn đón đọc!

Tủ sách doanh nhân bạn nên đọc:

Điệp Viên Hoàn Hảo X6

Điệp viên hoàn hảo X6 - Cuộc đời hai mặt phi thường của PHẠM XUÂN ẨN
Phóng viên Reuters, Time, New York Herald Tribune… &

Tướng Tình Báo Chiến Lược Việt Nam

Phạm Xuân Ẩn, một cái tên chứa biết bao điều bí ẩn, không chỉ với người Việt Nam, mà đối với cả rất nhiều chính khách và báo chí thế giới, đặc biệt là báo chí Mỹ. Người ta đã bình luận, tranh cãi, phỏng đoán và viết rất nhiều về ông, thậm chí còn làm phim tài liệu nhiều tập về ông, nhưng dường như còn có quá nhiều điều vẫn chưa được làm sáng tỏ. Cho đến khi một người Mỹ bắt tay vào cuộc… Đó chính là Larry Berman, nhà sử học, giáo sư chính trị học thuộc đại học California, một chuyên gia xuất sắc chuyên nghiên cứu về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ. Năm 2007, quyển sách Perfect Spy - The Incredible Double Life of PHAM XUAN AN Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent (Điệp viên hoàn hảo – Hai cuộc đời khó tin (hay cuộc đời hai mặt theo cách gọi của Phương Tây về   Phạm Xuân Ẩn, phóng viên tạp chí Reuters, Time và tướng tình báo Cộng sản Việt Nam)) của Larry Berman được xuất bản lần đầu tiên tại Mỹ đã gây chấn động dư luận Mỹ, kiều bào Việt Nam ở Mỹ và cả ở Việt Nam. Vì trước khi quyển sách này ra đời, rất ít người biết và hiểu về tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, mặc dù ông là một nhân vật huyền thoại của chiến tranh Việt Nam. Có lẽ bởi vì cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn, cũng giống như tên của ông, chứa đựng nhiều bí ẩn về con người và sự nghiệp của một nhà tình báo vĩ đại, tài năng và bản lĩnh nhưng lại vô cùng khiêm nhường, bình dị.

Phạm Xuân Ẩn (sinh ngày 12/9/1927, mất ngày 20/9/2006) tham gia hoạt động cách mạng từ đầu thập niên 1950, năm 1953 được kết nạp Đảng và được giao nhiệm vụ hoạt động điệp báo. Nhằm tạo vỏ bọc tốt hơn để có thể thâm nhập sâu hơn vào giới chức chính quyền và quân đội Sài Gòn, năm 1957 ông được cấp trên bố trí cho sang Mỹ học ngành báo chí. Năm 1959, Phạm Xuân Ẩn về nước, làm việc cho Hãng tin Reuters và sau đó là tạp chí hàng đầu Time, New York Herald Tribune  của Mỹ. Với kiến thức uyên bác, hiểu biết rộng, cương trực và tài năng giao tiếp, ngoại giao khác biệt, độc đáo theo kiểu lãng tử, hào hoa, ngang tàng, “chửi thề như bắp rang”, xuất hiện với phong cách thượng lưu, thừa hưởng văn hóa được đào tạo chính qui từ Mỹ, ông đã thâm nhập và là bạn tri kỷ với các tướng lĩnh, trùm an ninh mật vụ cả Mỹ và Sài Gòn, giới báo chí Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ cũng như các chính khách chóp bu của chính quyền Sài Gòn để khai thác những thông tin tuyệt mật mang tầm chiến lược cho cuộc đối đầu của Bắc Việt Nam với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cuộc đời hoạt động tình báo đầy ly kỳ hấp dẫn nhưng cũng vô cùng hiểm nguy của Phạm Xuân Ẩn với bí danh X6 thuộc cụm tình báo H63 được thể hiện một cách trung thực, sinh động trong cuốn Điệp viên hoàn hảo X6  được bổ sung cập nhật mới.

Điệp viên hoàn hảo X6
Sau 6 năm, cuốn sách với những thông tin có giá trị lịch sử giờ đây lại được ra mắt bạn đọc qua một bản dịch đầy đủ và cập nhật nhiều thông tin chưa từng được công bố do chính Phạm Xuân Ẩn tiết lộ với tác giả Larry Berman có ghi âm. Với lời hứa chỉ được công bố những thông tin này từng giai đoạn sau khi Phạm Xuân Ẩn mất, Larry Berman đã mất 6 năm để cân nhắc để từng bước công bố thông tin của người đã khuất.
Trong ấn bản lần này, ở đầu sách có lời cảm nhận của nguyên Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, với tựa đề “Nhớ mãi một con người”, trong đó có đoạn: “Phạm Xuân Ẩn là nhà tình báo chiến lược cực kỳ quan trọng. Anh đã sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết giữa hai chiến tuyến, hai làn đạn. Một nhà báo Reuters và Time được cả chính khách Mỹ nể trọng. Một tình báo, một người yêu nước thật sự đã đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp giải phóng dân tộc với một nhân cách đặc biệt, một tấm lòng của một người Việt Nam chân chính. Hiếm có một nhà tình báo nào trên thế giới để lại những bí ẩn và tình cảm tốt đẹp cho mọi người từ cả hai phía như nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn”.
Trong bài Một phần của hình hài Tổ quốc viết cho ấn bản mới cuốn Điệp viên hoàn hảo, ông Đào Văn Lừng, Vụ trưởng, Trưởng cơ quan Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: “Thiếu tướng-Anh hùng LLVT - đó là sự vinh danh của Tổ quốc dành cho nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn. Nhưng tên tuổi của Ông còn đi xa hơn thế, đặc biệt với những người bên kia chiến tuyến. Điều lạ lùng là ngay cả khi nhiệm vụ thực sự của Ông được công bố, Phạm Xuân Ẩn vẫn giành được sự kính trọng và ngưỡng mộ tuyệt đối từ những đối thủ của mình! Hàng loạt các chính khách, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu… từ Mỹ nva2 trên thế giới khi đến Việt Nam đều mong muốn được diện kiến ông là một minh chứng! Đặc biệt giáo sư, nhà sử học Mỹ Larry Berman đã dành nhiều năm với gần 30 lần bay từ Mỹ đến Việt Nam để gặp và phỏng vấn “đối thủ”lớn của ngành tình báo Mỹ sừng sỏ cho thấy sự hấp dẫn của Phạm Xuân Ẩn – một người do chính nước Mỹ góp phần “đào tạo” nên!”
Ấn bản mới này có bổ sung Lời giới thiệu của tác giả cho lần tái bản 2013 “Sáu năm sau: hồi tưởng về Điệp viên hoàn hảo”. Larry Berman viết: “…cuộc đời của Ẩn không chỉ là một câu chuyện chiến tranh mà còn là câu chuyện về hàn gắn, về lòng trung thành với đất nước và bạn bè. Trong ấn bản mới, tôi đã thêm vào những câu chuyện và tình tiết mới mà hồi năm 2007 chưa thể kể ra. Tôi cũng phản ánh lại việc một số độc giả dân sự và quân sự Mỹ đã phản ứng về cuốn sách của tôi cũng như về nhân vật/con người Phạm Xuân Ẩn như thế nào. Tuy nhiên, điều làm cho ấn bản mới này trở nên rất quan trọng đó là bản dịch mới. Độc giả Việt Nam sẽ lần đầu tiên được đọc câu chuyện về cuộc đời phi thường của Phạm Xuân Ẩn như chính những gì mà ông đã kể với tôi, một người Mỹ viết hồi ký cho ông. Điều này làm cho ấn bản của First News - Trí Việt vừa rất đặc biệt, vừa là một cuốn sách mới chứa đựng rất nhiều thông tin lần đầu tiên công bố…”.
Đặc biệt trong lần in mới này công bố bức thư xúc động của bà Thu Nhàn, vợ thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, gửi tác giả Larry Berman: “Do mắt kém, tôi phải đọc cuốn sách của ông ba lần trong suốt ba ngày, dù tôi muốn đọc xong ngay lập tức: ba ngày đầy cảm xúc, ba ngày đầy nước mắt nhớ thương, đầy tình yêu và sự tiếc nuối… Và giờ đây, mỗi lần đọc lại là tôi không cầm được nước mắt! Một ít người bạn của tôi cũng có cảm xúc như vậy… Nhưng tôi muốn đọc lại nhiều lần để nhớ về chồng tôi.
Đôi lúc, tôi cảm thấy như anh Ẩn còn sống, nhưng thật đau đớn, tôi mãi mãi không thể gặp anh ấy ở bất cứ nơi nào trong cuộc đời thực này nữa. Một nửa thân thể tôi đã chết! Càng thêm tuổi, tôi càng thấy cô đơn khi không còn anh ấy. Đó có phải là định mệnh khắc nghiệt mà tất cả chúng ta đều phải chịu đựng trong cuộc đời này?!”.
Ngoài ra, ấn bản mới còn có lời giới thiệu “Hãy Viết Sự Thật” của nhà sử học Dương Trung Quốc: “…Chắc chắn, một người Mỹ viết về Phạm Xuân Ẩn sẽ có lợi thế mà các tác giả Việt Nam khó có được. Không phải chỉ là vấn đề tư liệu. Giáo sư Lary Berman có thể khai thác các kho lưu trữ ở Mỹ, tiếp cận các nhân chứng người Mỹ, các cựu tướng lĩnh, chính khách Việt Nam Cộng hoà nay đang định cư ở Mỹ... là những nhân tố tạo nên môi trường sống và hoạt động của Phạm Xuân Ẩn với tư cách là một phóng viên của Tạp chí Time và một nhà tình báo luồn sâu vào nội bộ đối phương để chống lại cuộc chiến tranh mà nước Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam ở những thập kỷ 60,70 ở thế kỷ trước.
Nhưng, cái lợi thế ấy không mấy quan trọng bằng cách suy nghĩ của một công dân, một nhà sử học Mỹ về một nhà tình báo đứng ở chiến tuyến bên kia của một cuộc chiến khốc liệt. Nói cách khác, chỉ một tác giả người Mỹ như Larry Berman mới lý giải được vì sao Phạm Xuân Ẩn không chỉ được những người đồng bào, đồng chí Việt Nam của mình khâm phục, vinh danh như một người anh hùng mà nhiều người Mỹ đã từng quen biết vẫn giữ được sự kính trọng và chia sẻ những việc Phạm Xuân Ẩn đã hành xử với tư cách một người Việt Nam yêu nước...”.
Tủ sách doanh nhân bạn nên đọc:
Thông tin về tác giả: Larry Berman
Larry Berman nhà sử học, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học California đồng thời là một người chuyên tâm nghiên cứu lịch sử cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông cũng là tác giả của cuốn sách nổi tiếng Không hòa bình, Không danh dự: Nixon, Kissinger và Sự phản bội ở Việt Nam. Đây là cuốn sách rất có giá trị lịch sử về giai đoạn cuối cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam.
Larry Berman đã phải mất 5 năm và sang Việt Nam 18 lần để thu thập tư liệu cho lần in cuốn sách đầu tiên Điệp Viên Hoàn Hảo và sau đó hàng chục lần cho lần in mới này.
Zamina mời các bạn đón đọc!

Ngũ Luân Thư - Miyamoto Musashi

Ngũ luân thư bao gồm “Địa chi quyển”,” Hỏa chi quyển”, “Thủy chi Quyển”, “Phong chi quyển” và “Không chi quyển”, chủ yếu bàn về võ nghệ, kiếm pháp, cái Đạo của người học kiếm và là cẩm nang dành cho người muốn học binh pháp… nhưng ngày nay nó lại được nghiền ngẫm khắp nơi, từ giảng đường Harvard cho đến các doanh nhân và các chiến lược gia.

Bìa sách Ngũ Luân Thư

Thời đại ngày nay, không thể phủ nhận được tầm quan trọng của Ngũ luân thư khi nó là kim chỉ nam cho người đọc, giúp họ chiến thắng mục tiêu và đạt được thành công trong sự nghiệp nói chung, và là lời đáp trả của người Nhật cho MBA của Harvard nói riêng.

Tử địa Sekigahara là cách người ta gọi trận chiến khốc liệt giữa hai phe lãnh chúa Nhật Bản, phe Đông Quân và phe Tây Quân, diễn ra ngày 15/9 niên hiệu Khánh Trường thứ 5 (ngày 21/10/1600), tại Sekigahara, thuộc tỉnh Gifu ngày nay. Gọi là tử địa vì sau trận chiến khốc liệt ấy đã có bảy mươi ngàn người chết, còn Seigahara được coi là trận đánh lớn nhất lịch sử Nhật Bản.

Một kiếm khách mười sáu tuổi, tên là Miyamoto Musashi, bước vào trận đánh với tư cách là võ sĩ bên Tây Quân, sau đó là phe thua trận. Kiếm khách trẻ trung và cuồng nhiệt ấy đã chiến đấu anh dũng qua ba ngày của trận chiến. Chàng không chỉ sống sót và bước ra khỏi tử địa mà còn thoát khỏi chuỗi ngày gian nan bị phe chiến thắng truy sát.

Kể từ ngày đó, kiếm khách này vân du khắp nơi chỉ để luyện kiếm, báo thù và tham dự các cuộc quyết đấu sinh tử. Mushashi không thất bại một lần nào và trở thành sư tổ của môn phái sử dụng song kiếm có tên Nhị Thiên Nhất Lưu. Sau này, ông được người Nhật gọi là Kensei (Kiếm Thánh).

Người ta vẫn nói, để hiểu được một người Nhật bước chân ra thế giới bên ngoài để kinh doanh, thì phải hiểu cái tinh thần của một chiến binh bước vào tử địa Seigahara.

Để hiểu được các quan chức chính phủ hoặc tập đoàn Nhật Bản đồng loạt từ chức để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo, cũng giống như các samurai thuộc hạ tự mổ bụng tuẫn tiết (hara-kiri) để tránh cho mình và “tướng quân” của mình bị làm nhục, thì phải hiểu được tinh thần võ sĩ đạo.

Và để hiểu được người Nhật tu dưỡng bản thân hằng ngày thế nào, các doanh nghiệp Nhật lập chiến lược kinh doanh của mình ra sao, các chính trị gia ra quyết định thế nào, thì phải đọc tác phẩm kinh điển Go Rin No Sho (Ngũ luân thư) của Kiếm Thánh Myamoto Musashi.

Go Rin No Sho là quyển sách về binh pháp được Kiếm Thánh Musashi viết trong những tuần lễ cuối đời khi ông ở ẩn trong hang núi.  Kể từ khi được dịch sang Anh ngữ với tên A Book of Five Rings, cuốn sách được nghiền ngẫm từ giảng đường Havard nơi các sinh viên sử dụng sách như cẩm nang để thành công trong cuộc đời, đến các doanh nhân đọc để có cách nghĩ mới về chiến lược kinh doanh và các nhà quân sự cao cấp đọc để biết những nguyên tắc của một binh pháp thư chưa bao giờ sai suốt 300 năm kể từ khi được viết ra.

Tạp chí Time ca ngợi cuốn sách rất ngắn gọn: “Ở phố Wall, khi Musashi cất tiếng, tất cả lắng nghe”. Time cũng viết “Go Rin No Sho là câu trả lời của Nhật Bản cho Havard MBA”.

Với những doanh nghiệp đang khát khao chinh phục phương Tây giống như người Nhật cũng rất nên đọc cuốn sách này, bởi như Time Out viết: “Nếu bạn tò mò tại sao người Nhật có thể xông pha giữa cộng đồng kinh doanh phương tây dễ như lưỡi kiếm samurai cắt ngang miếng bơ, câu trả lời không nằm trong những xí nghiệp hay những máy móc tự động. Câu trả lời nằm trong sách binh pháp Go Rin No Sho”.

Giới quân sự và chính trị thì ngầm so sánh Ngũ luân thư với Tôn Tử binh pháp khi cho rằng binh pháp của Tôn Tử chỉ là sách dành cho bậc tướng, còn Ngũ luân thư mới là sách cho bậc vương.

Dựa trên triết lý của Zen (Thiền) và cách tiếp cận thực dụng để làm chủ kỹ năng chiến thắng, Go Rin No Sho được cho là cuốn cẩm nang sâu sắc nhất từng được viết ra trên thế giới này. Với doanh nhân, đây là cuốn cẩm nang chiến lược kinh doanh. Với nhà chính trị quân sự, đây là cẩm nang binh pháp. Với tất cả những ai yêu thích kinh doanh và quân sự, đây là cuốn sách không dễ đọc nhưng rất đáng để nghiền ngẫm.

Cuốn Ngũ luân thư - Go Rin No Sho là bản dịch của thầy Bùi Thế Cần. Bản dịch cuốn sách này dựa vào các bản tiếng Anh A book of Five Rings của tác giả Victor Harris do The Overlook Press xuất bản năm 1974, The book of Five Rings của Nihon Services Corporation do Bantam Books xuất bản năm 1982; có tham khảo bản tiếng Nhật kim văn của Kamata Shigeo xuất bản năm 1986, và các bản dịch nội gia của Hà Vân và Mạnh Sơn từ bản tiếng Trung và tiếng Nhật kim văn.

Dịch giả Bùi Thế Cần nguyên là Giáo sư Pháp văn đại học Văn khoa Sài Gòn. Hiện ông lui về chốn vắng để dành thời gian cho niềm đam mê của mình là nghiên cứu và tập luyện song kiếm theo trường phái Niten Ichi Ryu của Kiếm Thánh Miyamoto Musachi. Ông cũng là võ sư Aikido hệ lục đẳng, có nhiều đóng góp cho phong trào Aikido ở TP.HCM.

Tủ sách doanh nhân bạn nên đọc:
Shoptretho mời các bạn đón đọc!

Xách Ba Lô Lên Và Đi - Tập 2: Đừng Chết Ở Châu Phi!

Xách Ba Lô Lên Và Đi - Tập 2: Đừng Chết Ở Châu Phi!

“Những ai yêu mến Huyền Chip và theo dõi cuộc hành trình của châu Á của cô trong tập một “Xách ba lô lên và Đi” - “Châu Á là nhà. Đừng khóc !” có lẽ đã đủ kinh ngạc trước cái máu phiêu lưu của cô bạn nhỏ bé này. Đến tập hai, “Đừng chết ở châu Phi”, bạn đọc còn thấm thía hơn trước sự liều lĩnh của Chip. Chỉ có lòng can đảm lấp đầy trong ba lô, Chip hăng hái lên đường ngược xuôi châu Phi hoang dã.

Đi dọc châu Phi một mình mặc những lời cảnh báo từ anh bạn thân Asher, Huyền Chip trải qua cung đường nguy hiểm nhất, đối mặt với cô đơn cùng cục, với cái đói, khát và căn bệnh thế kỷ. Cô trải qua những khó khăn mà mình chưa bao giờ tưởng tượng ra, những thách thức đã trở thành nỗi ám ảnh: bị sáu tên cướp cầm dao dí vào cổ, dân địa phương dai dẳng đeo bám xin tiền… Tuy nhiên, những điều đó không hạ gục được cô bạn nhỏ bé này và châu Phi vẫn là nơi cô mang nợ. Trái tim ấm áp của con người châu Phi khiến tất cả của vùng đất này trở thành nỗi nhớ day dứt trong Huyền.

Với “Đừng chết  ở châu Phi”, Huyền Chip vẫn cho thấy sự đơn giản, chân thật trong cách viết. Sự thẳng thắn của của một kẻ ưa mạo hiểm pha lẫn chất lãng mạn giúp “Xách ba lô lên và Đi” có sức hút đặc biệt. Trải nghiệm của cô ở châu Phi sẽ thêm lửa cho những ai muốn vượt qua giới hạn của bản thân và bước ra ngoài thế giới để khám phá chính mình.”

---

Viết cho Bim, Hy vọng một ngày nào đó khi lớn lên, em sẽ hiểu điều chị muốn gửi gắm đến em qua quyển sách này.

Lời mở đầu

Với tôi việc viết cuốn sách này thật khó khăn. Không phải do sức nặng của từng câu từng chữ, không phải do thời gian quá bận rộn để không còn sức lực chú tâm mà mỗi khi nhớ lại những sự việc xảy ra ở châu Phi, cảm xúc hỗn độn trong tôi dồn dập trở về. Đôi khi, tôi muốn quay mặt đi để khóc và nhớ.

Châu Phi với tôi là một châu lục của những cảm xúc vô cùng mãnh liệt. Chưa bao giờ tôi thấy yếu đuối như ở châu Phi: cô đơn đến cùng cực, thể chất suy sụp, bị đói, bị bỏ rơi, ám ảnh với căn bệnh thế kỷ. Chưa bao giờ tôi thấy đơn độc như khi bị sáu thanh niên cầm dao dí vào cổ cướp hết đồ đạc mà xung quanh mọi người chỉ giương mắt nhìn. Chưa bao giờ tôi thấy tức giận như khi những hủ tục trọng nam khinh nữ vẫn đầy rẫy khắp nơi, quan niệm cho rằng người nước ngoài nào cũng là túi tiền di động luôn thường trực trong suy nghĩ của họ. Cũng chưa bao giờ tôi thấy muốn đấm vào mặt ai nhiều như khi người ta cứ khăng khăng bảo tôi là người Trung Quốc, khi đám đàn ông hỏi tôi giá bao nhiêu để cưới tôi làm vợ. Nhưng cũng chưa bao giờ trái tim tôi rung động mạnh như khi những anh chàng mặc áo rách nửa lưng rón rén xin được chạm vào tóc tôi vì lần đầu tiên được thấy tóc dài; những cô bé không nói được tiếng Anh, ú ớ chỉ vào đôi dép rách tôi đang đi, không ngần ngại ngồi bệt xuống đất giúp tôi khâu lại; những người dân làng gầy gò, ăn chẳng đủ no nhưng khi thấy tôi đói phải ăn lạc sống đã hốt hoảng chạy về nhà tìm xem có gì ăn được để mang hết ra cho tôi.

Con người châu Phi đơn giản và hoang dã, nhưng trái tim họ rất ấm áp.

Trong trái tim của tôi châu Phi luôn là một châu lục đặc biệt. Khi tôi ở đó, nó ăn mòn tâm trí tôi, khiến tôi phát điên lên. Nhưng khi đi rồi, tôi lại day dứt nhớ. Châu Phi dạy cho tôi cách chấp nhận: chấp nhận rằng văn hoá là khác biệt, chấp nhận rằng cuộc sống đôi khi rất bất công, chấp nhận rằng trong đời cũng có những lúc lực bất tòng tâm, chấp nhận rằng nếu mình không thể sống cuộc sống của người khác thì không được chỉ tay năm ngón phán xét đúng sai. Tình cảm của tôi với châu Phi không đơn giản chỉ là yêu và nhớ. Tôi mang nợ châu lục này, mang nợ con người nơi đây và tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm với họ. Đây là một châu lục bị hiểu nhầm.

Tôi hy vọng rằng cuốn sách này của tôi sẽ phần nào giúp mọi người có cái nhìn thực tế hơn về châu Phi.

I HAVE A DREAM...

Ai sinh ra cũng mang trong mình một mơ ước. Những mơ ước thời thơ ấu vẫn cứ tồn tại mãi qua nhiều năm tháng cuộc đời. Và cho đến khi về với cát bụi, có nhiều ước mơ vẫn còn đó như sự vương vấn mà chúng ta để lại với cuộc sống này - một cuộc sống vốn dĩ rất tươi đẹp.

Khi bắt đầu đọc bản thảo tập hai của Xách ba lô lên và đi, tôi nhớ đến một câu nói của Martin Luther King: I have a dream... Những chặng đường mà Huyền Chip đã đi qua giống như hành trình đi đến với chính cốt lõi bản thân mình. Chip đi để đến gần hơn với sức chịu đựng của mình, đến gần hơn với những điều mình mong mỏi khám phá. Đôi khi tôi cảm tưởng như bạn đang hành xác để nhận thấy những điều mình có thật sự quý giá. Như một cuộc hành hương về thánh địa, cuối cùng bạn luôn đến đích. Và tôi đã say mê, đã miệt mài đọc để đồng hành cùng bạn.

Tôi tưởng như chính mình dấn thân vào con đường nguy hiểm nhất châu Phi, đứng trước đồng cỏ với từng bầy hổ báo, hươu nai đang lao vào cuộc đấu tranh sinh tồn. Những làng mạc nghèo đói, những thành phố đổ nát, cướp biển, khủng bố, chiến tranh dường như chưa bao giờ khỏa lấp được hình ảnh một châu Phi xinh đẹp và hình ảnh Chip lẫn vào trong đó, luôn ấn tượng hơn bao giờ hết. Lúc đó tôi đã có suy nghĩ rằng tại sao tôi không thử đi một lần để ngắm nhìn thế giới. Như một đứa trẻ học vần, lần đầu tiên tôi thấy mình muốn làm theo một ai đó và một việc người khác đã làm khiến tôi thấy thú vị đến nỗi cũng muốn làm theo.

Chip tự nhận mình không phải là nhà văn và không bao giờ muốn dùng những từ đao to búa lớn. Bạn đơn giản chỉ là đang ghi lại những gì trên những con đường bạn đã đi qua. Nhưng chính lối nghĩ mộc mạc ấy đã khiến văn phong của Huyền Chip cuốn hút một cách đặc biệt. Những đoạn đối thoại ngây ngô với người bản xứ, những tình huống dở khóc dở cười, hiểm nguy trước mặt mà cứ như một trò game dã chiến. Tất cả những điều đó khiến Xách ba lô lên và đi 2 có một sức hấp dẫn khó cưỡng lại được.

Tôi nghĩ rằng, độc giả sẽ tìm thấy niềm say mê rất lớn ở cuốn sách này. Và, nó cũng sẽ trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bạn trẻ khác thực hiện những điều mà mình chưa dám làm vì còn e ngại. Đối với riêng tôi, biên tập cuốn sách này là một hành trình nho nhỏ qua từng câu chữ để đem đến cho bạn đọc một châu Phi thú vị, một Huyền Chip chưa bao giờ hết thú vị. Cuốn sách sẽ nằm trong tay bạn, đó là niềm hạnh phúc rất lớn của tôi và những người đã góp phần hoàn thành cuốn sách này. - (Lời Người Biên Tập)

Thông tin tác giả: Huyền Chíp

- Tác giả: Huyền Chip

- Sinh ngày: 19/9/1990

- Mười bảy tuổi, Huyền Chip tổ chức chiến dịch Free Hugs lớn nhất Việt Nam.

- Mười chín tuổi, cô  trở thành điều phối viên tại Việt Nam của chiến dịch SEAChange 2009.

- Hai mươi tuổi, Huyền Chip bỏ công việc trong mơ đang có ở Malaysia để theo đuổi khát vọng “đi để trải nghiệm”.

- Hai mươi hai tuổi, xuất bản cuốn sách “Xách ba lô lên và đi” và trở thành hiện tượng trong giới trẻ.

Các tác phẩm đã xuất bản:

- “Xách ba lô lên và Đi” - Tập 1: “Châu Á là nhà. Đừng khóc !”

Nhận xét:

"Cô gái nhỏ nhắn nhưng rất mạnh mẽ" - GS. NSND. Nguyễn Lân Dũng

"Ngẫu hứng, yêu đời, quái, hết mình và thông minh." - An Ninh Thủ Đô

"Cô tên Huyền Chip, cô gái "xách ba lô lên và đi" đã trở thành một hiện tượng trong giới trẻ. Cô thật sự là một người truyền cảm hứng, khơi dậy ước mơ được đi và khám phá của không ít người." - Vietnamnet

"Đi đâu, làm gì, hễ cứ nhắc đến "phượt", "du lịch bụi" là người ta lại xôn xao về câu chuyện của Huyền Chip." - Mốt & Cuộc Sống

"Một hiện tượng phát hành" - Hà Nội Mới

"Cuốn sách bán chạy nhất năm 2012" - Tiki.vn

"Rõ ràng cô Huyền Chip chỉ muốn dùng tên của tôi để câu khách." - Leonardo Da Vinci

"Cháu xin Visa như thế nào?" - Nguyên Phó Thủ Tướng Vũ Khoan

Tủ sách doanh nhân bạn nên đọc:

TRÍCH ĐOẠN SÁCH:

1. This time for Africa!

Trước khi đến châu Phi, lục địa này hoàn toàn là một điểm đen trong tâm trí tôi, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tôi thật sự không biết một tí tị tì ti gì về châu Phi. Khi nghe nói tôi chuẩn bị sang Ethiopia, Asher hỏi: “Bay sang Addis Ababa à?”. Tôi ngớ người ra: “Addis Ababa là gì?”. Anh chàng sạc cho tôi một trận:

- Là thủ đô của cái nước mày chuẩn bị qua đấy. Chả biết gì về châu Phi mà cũng đòi sang.

- Ơ hay, vì không biết gì về châu Phi nên mới phải sang để mà biết chứ!

Phần lớn tên các nước châu Phi tôi chưa nghe đến bao giờ, đừng nói đến thủ đô của chúng. Xin visa thế nào, đi lại ra sao, ăn tiêu cái gì, tôi cũng chưa thể hình dung. Tất cả những gì tôi biết về châu Phi chỉ là hạn hán, nạn đói, nội chiến... đọc được trên báo chí và những kinh nghiệm nửa kiểu chia sẻ, nửa kiểu răn đe của Asher. Cách đó ba năm, trong chuyến xách ba lô lên và đi của mình, anh cũng đã làm một chuyến đến châu Phi. Nhưng kế hoạch tươi đẹp đi dọc chiều dài châu Phi từ Ai Cập xuống Nam Phi của anh chỉ thực hiện được đến Uganda là anh phải bỏ của chạy lấy người, bay thẳng về châu Âu, trở lại với thế giới văn minh.

- Châu Phi là như thế đấy mày ạ. Tao cũng không biết phải giải thích thế nào. Người dân ở đấy nghĩ rất khác, sống rất khác, mọi chuyện cứ như xảy ra theo một quỹ đạo khác. Thái độ không phải là thù địch nhưng rất khó chịu. Ngày ngày nó cứ găm vào tâm trí mày, ăn mòn sức chịu đựng của mày đến mức mày không chịu được nữa phải nổ tung ra.

Một đứa coi trời bằng vung, chẳng sợ gì chỉ sợ chán như Asher mà còn nói như thế thì không biết châu Phi thực sự như thế nào?

- Nhưng mày cứ đi đi. Mày đến từ Việt Nam, có khi mày lại thích nó.

Câu nói của Asher làm tôi suýt sặc.

Sau khi nghiên cứu bản đồ và thăm dò thông tin trên mạng, tôi quyết định mình sẽ đi dọc bờ phía Đông của châu Phi, cái trục mà dân đi bụi hay gọi là Cairo - Cape Town theo tên của hai thành phố ở hai đầu Bắc Nam của châu lục này. Nhưng sau hơn một năm xách ba lô lên và đi, tôi đã thấm thía được rằng tất cả chỉ mang tính tương đối. Lịch trình có lập ra âu cũng chỉ để đối chiếu. Đi rồi mới biết chẳng có gì là giống như mình lên kế hoạch cả. Tôi chỉ có thể định hình hướng đi của mình là như thế và đánh dấu một số điểm đến không muốn bỏ qua, còn lại đường đi nước bước cụ thể thế nào thì phải tuỳ cơ ứng biến.

Nước tiếp theo sau Ai Cập trong trục đường của tôi là Sudan. Mặc dù đã nghe kể quá nhiều về cảnh đẹp như mơ và những con người quá ư thân thiện của đất nước này nhưng tôi đành cắn răng bỏ qua vì với visa Israel trong hộ chiếu thì đừng hòng chính quyền Sudan cấp visa cho tôi. Lòng đau như cắt, nước mắt đầm đìa, tôi đành đặt vé bay thẳng từ Ai Cập xuống Ethiopia. Để lấy được visa đi Ethiopia cũng không phải chuyện đơn giản. Ban đầu, tôi xin visa từ đại sứ quán Ethiopia ở Ai Cập thì bị từ chối thẳng thừng vì họ chỉ nhận hồ sơ của những người sinh sống tại Ai Cập thôi. Tôi đưa ra lý do là Ethiopia không có đại sứ quán ở Việt Nam thì họ bảo tôi sang nước lân cận như Thái Lan hay Trung Quốc để xin. Tôi nhờ đại sứ quán Việt Nam ở Ai Cập tác động cũng không được. Nghĩ họ cố tình làm khó mình, tôi đã cáu đến mức thề sống thề chết sẽ không thèm sang Ethiopia nữa. Nhưng khi sang đến Israel, tình cờ đi qua đại sứ quán Ethiopia, tôi quên hết ân oán giang hồ vào xin tiếp. Ai ngờ bác phụ trách visa chỉ hỏi tôi mấy câu rồi gật đầu cái rụp. Mười lăm phút, hai mươi lăm đô là tôi đã có visa sang Ethiopia ba tháng.

Những tưởng có visa, có vé máy bay là có thể ung dung cất cánh, nhưng rồi tôi vẫn bị một phen đau tim ở Cairo. Số là tôi không có visa vào hẳn Ai Cập, mà chỉ được phép vào khu vực Sinai. Sinai cũng thuộc Ai Cập, nhưng bán đảo này có chính sách visa riêng. Họ miễn visa cho bất kỳ ai muốn đi du lịch ở đây. Để tiết kiệm tiền, chuyến bay Sinai - Ethiopia của tôi có quá cảnh ở Cairo, Ai Cập. Khi xuống đến Cairo, tôi phát hiện ra mình hạ cánh ở sân bay nội địa của Cairo, tức là có thể thoải mái ra ngoài mà không phải đi qua hải quan. Thế là tôi tranh thủ đến thăm gia đình Amr và những người bạn tôi quen ở đây, không quên cầm theo số của đại sứ quán Việt Nam ở Ai Cập để chẳng may có bị kết tội nhập cư bất hợp pháp thì còn có người để cầu cứu. Nhưng thật may, ngoại trừ nửa tiếng bị giữ lại ở sân bay để kiểm tra thì không có chuyện gì xảy ra cả.

Chuyến bay của tôi khởi hành lúc hai giờ năm mươi sáng. Cảm nhận đầu tiên trên chuyến bay đầu tiên ở châu Phi của tôi là nó hơi... hôi hôi. Lúc đó tôi đã thầm nghĩ: “Đúng là châu Phi”. Do không biết gì về Ethiopia, tôi đã hy vọng lên máy bay có thể hỏi chuyện người ngồi cạnh, nhưng bác ngồi cạnh tôi vừa đặt mông xuống là ngủ như chết.

Lạnh!

Châu Phi mà lại lạnh làm tôi cứ nghĩ mình vẫn còn mơ ngủ mà bước nhầm xuống trời cuối thu Hà Nội chứ! Cái lạnh Ethiopia không gay gắt như cái lạnh trên dãy Himalaya nhưng cũng đủ làm tôi rùng mình, cảm giác như vừa bước ra khỏi chăn sáng sớm đầu đông vậy. Những người xung quanh tôi rục rịch khoác thêm áo lên người nhưng tôi kiên quyết không mặc áo khoác. Tôi muốn để cái lạnh thấm vào từng thớ da thớ thịt, hít một hơi thật sâu để cái lạnh ngấm vào cả gan, cả phổi, để gió len lỏi vào từng chân tơ kẽ tóc, để không bao giờ có thể quên cái lạnh đầu tiên của tôi ở châu Phi. Châu Phi ơi, còn bao nhiêu bất ngờ đang đợi ta ở phía trước nữa?

2. Alice ở xứ sở thần tiên

Tôi đổi toàn bộ số tiền đang có sang đồng birr của Ethiopia, được khoảng bốn trăm birr (đọc là bơ với âm r ở cuối). Điện thoại hết pin, tôi phải dùng đủ loại ngôn ngữ cử chỉ để mượn điện thoại của một bác lái taxi gọi cho Elena. Elena là chủ tịch AIESEC, một tổ chức sinh viên quốc tế chuyên gửi sinh viên đi thực tập ở nước ngoài. Trước khi sang đây, tôi đã viết thư xin gia nhập tổ chức để biết đâu có thể đi thực tập ở Ethiopia hay nước nào đó ở châu Phi. Elena viết thư trả lời lại rằng rất ấn tượng với blog và hồ sơ của tôi nên cũng rất mong có thể gặp tôi trực tiếp để xem tôi có đủ tiêu chuẩn không. Chị cũng bảo sẽ sắp xếp người ra đón tôi ở sân bay. Nhưng khi tôi gọi cho chị, chị lại bảo là chị không đến đón được và cho tôi địa chỉ để tôi đến. Do không biết địa chỉ đó ở đâu, tôi đưa điện thoại cho bác lái taxi để hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Amheric, quốc ngữ của Ethiopia. Chẳng hiểu hai người nói chuyện rồi cãi nhau cái gì mà Elena cúp máy cái rụp để lại tôi ngơ ngác không hiểu chuyện gì diễn ra. Tôi muốn gọi cho Mika, người đã đồng ý hồ sơ tôi trên CouchSurfing(1) nhưng ngại không muốn mượn điện thoại của ai nữa. Không biết đi đâu về đâu, phản ứng tự nhiên của tôi là đi về trung tâm thành phố. Nhưng vấn đề là tôi cũng chẳng biết trung tâm thành phố là ở đâu. Các bác lái xe nhao nhao giải thích và đưa ra giá trên trời.

___________

(1) CouchSurfing là trang web kết nối những người sống ở địa phương và dân du lịch ba lô.

- Cháu có biết trung tâm nó ở đâu không? Xa lắm. Giá thế này là còn rẻ đấy.

- Cháu không biết nó ở đâu, nhưng cháu đã hỏi chuyện người trên máy bay và họ nói giá chỉ bằng nửa giá của bác.

Họ chẳng thèm nghe tôi nói mà cứ ra sức kéo ba lô lôi tôi lên xe. Bực mình, tôi quyết định sẽ đi bộ, tìm mua SIM điện thoại ở đâu đó rồi gọi cho Mika. Ở cổng sân bay, bất chợt một loạt xe van (xe thùng) sơn xanh trắng chạy qua. Phụ xe mở cửa hét toáng lên về phía tôi, thế là tôi nhảy lên.

- Giá vé là bao nhiêu ạ?

- Hai mươi lăm birr.

Chẳng biết giá này là giá chuẩn hay không nữa, tôi cứ giả vờ là mình biết và hỏi lại:

- Bao nhiêu cơ?

- Hai mươi birr.

Rồi tự nhiên tôi thấy một người trả hai birr.

- Hai birr thôi chứ?

- Không, đấy là tuỳ thuộc vào em đi đâu.

Tôi quay ra hỏi mấy người xung quanh nhưng ai cũng lấm lét nhìn người lái xe rồi trả lời là không biết. Bực nhỉ, cả xe mà chả có ai là đồng minh với mình à?

- Em sẽ không trả cao hơn giá địa phương đâu.

- Ghê gớm nhỉ. Được rồi, năm birr.

Nghe cũng không đến nỗi nào. Tôi đưa cho anh đồng một trăm birr, anh trả lại tôi tám mươi lăm birr.

- Anh này, đây là tám mươi lăm birr mà.

- Ơ chưa đủ à? Thêm một birr nữa nhé.

Cái gì thế này? Tôi biết không ít người sẽ bỏ cuộc vì họ thấy không đáng để tranh cãi chỉ vì nửa đô. Tiền không phải là toàn bộ vấn đề mà cảm giác bị lừa khiến tôi bực mình hết sức.

- Trả lại em mười birr - Tôi hét lên.

- Đây, mười birr của em đây.

Lát sau, tôi hỏi được giá xe buýt từ những người trên phố: một birr hai mươi lăm cho quãng đường ngắn, hai cho quãng trung bình và ba birr sáu cho quãng đường dài. Đi vài ngày là tôi đã khá quen với cách tính ngắn dài ở đây. Tôi phát hiện ra rằng ở Ethiopia, xe buýt thường xuyên tảng lờ không trả tiền thừa cho khách nước ngoài, và khi họ trả thì cũng thường xuyên trả không đúng. Trong khi với khách địa phương thì họ luôn trả đủ. Sự phân biệt đối xử này không chỉ dừng lại ở xe buýt mà còn với tất cả mọi thứ khác ở Ethiopia. Nhiều lúc tôi cáu phát điên lên mới thấy đồng cảm ghê gớm với khách nước ngoài đến Việt Nam bị chặt chém.

Tôi dừng lại ở Abyssinia, nơi mà mọi người nói với tôi là trung tâm thành phố. Hai anh chàng địa phương tiếp cận tôi đề nghị giúp đỡ. Họ nói họ là nhạc sĩ, thấy tôi có vẻ mất phương hướng nên muốn giúp đỡ tôi. Họ nói tiếng Anh tốt, tóc rasta giống Bob Marley nên tự nhiên tôi thấy có cảm tình. Tôi bảo với họ rằng tôi cần tìm mua SIM điện thoại.

- SIM dùng cho Addis là ba trăm birr, dùng cho cả Ethiopia là bốn trăm.

Như thế có nghĩa là còn đắt hơn cả Israel, trong khi Ethiopia nghèo hơn bao nhiêu. Không ổn tí nào cả. Họ dẫn tôi đến một quán bán SIM để kiểm tra, nhưng họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Amheric thì làm sao mà tôi hiểu được.

- Ba trăm là chuẩn rồi đấy. Em không có tiền à? Anh có hai SIM, anh để lại cho em một SIM giá hai trăm năm mươi birr rồi anh mua SIM khác cũng được.

- Vẫn đắt quá.

- Hai trăm birr vậy.

Lúc đó, tôi mới giật mình nhận ra rằng họ tiếp cận tôi chẳng vì bạn bè gì cả. Họ chỉ muốn kiếm tiền từ tôi thôi. Vậy mà tôi đã tin tưởng rồi lại còn có cảm tình với họ nữa chứ. Tự nhiên tôi thấy mình dại, mình ngu, rồi tự nhiên thấy thương mình ghê gớm. Bay cả đêm mới tới đây, bụng đói meo, lưng đeo cái ba lô mười lăm cân nặng trình trịch, thế mà sao ai cũng muốn lừa tôi thế này? Tôi quay lưng bỏ đi. Một đám đàn ông, phụ nữ, trẻ em chạy theo, kéo áo, kéo tóc, kéo ba lô tôi í éo: “Money, money, give me money”. Tôi vừa đẩy họ ra, vừa cố gắng để không bật khóc. Chợt một bác thợ may vẫy tay về phía tôi:

- Vào đây ngồi nghỉ đã cháu.

Bác có khuôn mặt hết sức nhân hậu. Đến lúc ấy, tôi đã hoàn toàn niềm tin vào con người nhưng quá mệt để có thể đi tiếp. Cửa hàng bác nhỏ xíu, chỉ đặt vừa một cái máy khâu và một cái ghế.

- Người dân ở đây là thế, cứ thấy người nước ngoài là họ nghĩ đến tiền.

Bác chỉ cho tôi đi sang quán bên cạnh để mua SIM. Hoá ra, một cái SIM ở đây có giá chỉ sáu mươi birr, nhưng tôi không thể mua được vì tôi không phải người Ethiopia. Tôi nhờ bác gọi cho Mika để lấy địa chỉ. Bác bảo Mika hẹn gặp tôi lúc chín giờ.

- Bây giờ là mấy giờ ạ?

- Năm giờ.

- Không thể nào. Cháu vừa đến đây lúc tám giờ sáng. Chẳng lẽ cháu ngất xỉu ở đâu mà không để ý thời gian à?

- Không, giờ là năm giờ. Cháu nhìn đồng hồ này. Đợi bốn tiếng nữa cháu sẽ gặp bạn cháu.

Hoang mang, tôi chạy ra phố hỏi giờ mọi người. Người thì nói là năm, người thì nói là mười một. Chuyện gì đang diễn ra thế này? Tôi đi lạc vào thế giới nào chăng? Tôi định chạy đến hỏi chuyện một cô bạn tầm tuổi tôi thì bác thợ may thì thầm:

- Gái bán hoa đấy.

Thì ra đây là khu vực nhạy cảm của thành phố.

Một cô gái khác bước đến gần tôi với quần bó, áo hai dây và trang điểm cực đậm. Suy nghĩ tự nhiên của tôi là cô cũng làm cùng nghề với cô gái kia. Nhưng cô bạn nói tiếng Anh rất tốt. Cô phá lên cười khi tôi hỏi về giờ. Ở Ethiopia, ngày không bắt đầu lúc nửa đêm mà được tính từ lúc mặt trời lên, bảy giờ sáng giờ quốc tế là một giờ sáng giờ Ethiopia. Bây giờ đang là mùa hè ở Ethiopia, nhưng không như mọi người nghĩ, mùa hè mới là thời gian lạnh, còn mùa đông thì lại nóng. Mika hẹn tôi lúc chín giờ Ethiopia, tức là ba giờ chiều giờ châu Âu như mọi người ở đây gọi.

- Ấy định làm gì từ bây giờ đến lúc đấy?

- Tớ cũng chưa biết nữa.

- Sao ấy không đến nhà tớ chơi?

Đến thời điểm này thì tôi chẳng còn quan tâm đến việc cô làm nghề gì nữa. Tôi nhìn bác thợ may, bác gật đầu. Tôi đi theo cô vào một ngõ nhỏ đầy rác và ngập ngụa nước thải. Ở giữa khu ổ chuột là một ngôi nhà cấp bốn xinh xắn. Một người đàn ông to cao, bặm trợn ra mở cửa. Ông nhìn không khác gì một ông trùm mafia trong phim Hollywood. Trong nhà nghi ngút khói. Tôi hơi chùn chân.

- Đây là chú của tớ.

Tôi thật là có trí tưởng tượng phong phú quá đây mà. Cô bạn này hoá ra là sinh viên ngành y. Cô rất thích nghịch tóc tôi.

- Tóc ấy mềm nhỉ.

Tôi cũng chạm vào tóc cô ấy. Tóc cô xoăn và cứng, cảm giác cứ dài ra là xoăn tít, cuốn lại phía da dầu. Tôi tỏ vẻ thông cảm:

- Hay ấy thử đổi dầu gội xem sao.

Cô phá lên cười:

- Ai mà tạo ra loại dầu gội có thể làm cho tóc người châu Phi thẳng và mềm được thì chắc chắn sẽ thành tỉ phú.

Người Ethiopia có tóc của người châu Phi nhưng da lại không quá đen mà màu nâu đậm rất đẹp. Mới ngày đầu tiên sang đây mà tôi đã phát hiện ra quá trời cái mình hiểu sai về châu Phi. Ngày xưa tôi còn tưởng người châu Phi da đen là vì cháy nắng nữa chứ.

- Ấy muốn ăn trưa món gì?

Ôi thích thế, lại còn được mời ăn trưa nữa!

- Đồ ăn Ethiopia ấy ạ.

Chị giúp việc trong nhà mang ra cho tôi injera, loại bánh mì mỏng nhưng xốp và rất chua mà người Ethiopia ăn hàng ngày. Tôi cắn thử một miếng rồi nhăn mặt vì chua quá. Cả nhà phá lên cười.

- Từ từ, ấy phải ăn với “wat”.

Wat nghĩa là nước chấm. Hôm đấy là ngày ăn chay nên họ chỉ có wat từ đậu lăng. Thương tôi đói, mọi người làm thêm trứng cho tôi.

- Gọi cho tớ nếu ấy cần giúp đỡ gì. Nếu ở chỗ bạn ấy không thoải mái, ấy có thể đến ở nhà tớ. Nhân tiện, tên tớ là Sawrawit nhưng mọi người gọi tớ là Berry.

Thật lạ, đôi khi chúng ta có thể nói chuyện với nhau như thân quen lắm rồi mà chẳng hề biết đến tên của nhau. Tôi cảm ơn rối rít rồi mày mò tìm đường xe buýt đi đến nhà Mika.

Chuyến phiêu lưu của tôi ở Ethiopia mới chỉ bắt đầu.

Tối hôm đấy, tôi đã viết ra mấy bài học sau:

1. Luôn luôn tìm hiểu trước khoảng cách từ sân bay về thành phố cũng như giá cả đi lại. Một trang mà tôi hay dùng là http://wikitravel.org. Nếu không tìm được thông tin trên mạng thì hỏi người đi cùng máy bay, xe buýt.

2. Khi mua bán, nếu không có bảng giá thì hãy là người trả cuối cùng sau khi đã xem tất cả mọi người trả như thế nào.

3. Luôn đếm tiền thừa.

4. Ở đâu cũng có người tốt và người xấu. Ta phải chịu khó tìm người tốt và kết thân với họ.

3. Tìm việc ở Addis Ababa

Mika có lẽ là người đầu tiên tôi gặp để râu quai nón mà nhìn vẫn hiền như cục đất. Tóc anh không xoăn dính sát đầu mà lại xù lên như đống rơm nên cứ rảnh là anh phải đi tết tóc. Anh sống cùng bạn gái Corine ở trong một căn hộ chung cư nằm ngay trên đường Boleh, con đường chính của thành phố - nơi tập trung các đại sứ quán. Đôi này có lắm cái buồn cười. Mika có vóc dáng điển hình của con trai Ethiopia: gầy và nhỏ. Trong khi đó, Corine lại có vóc dáng điển hình của con gái Bỉ: to và cao. Thế là khi xem phim, Mika không bế bạn gái mà ngồi vào lòng bạn gái. Mika lâu lâu lại thèm thuốc lá, trong khi bạn gái anh thì rất ghét mùi thuốc. Thế nên thỉnh thoảng, anh giả vờ lẩn ra ban công hóng gió. Corine từ trong phòng gọi ra:

- Anh yêu ơi, anh làm gì lâu vậy? Anh lại hút thuốc à?

- Anh đứng đây cho mát thôi, đâu có hút thuốc đâu.

- Lát nữa anh phải hôn em ngay mà không được đánh răng đâu đấy. Anh biết là em rất tinh, ngửi là biết có hút thuốc hay không.

- Em ơi, cả tuần nay anh mới hút điếu này là điếu đầu tiên - Mika đổi giọng ngay - Anh đã cố lắm rồi đấy nhưng lực bất tòng tâm, vứt bao thuốc xuống rồi lại phải nhặt nó lên. Anh chỉ hút một điếu thôi mà, anh năn nỉ đấy.

Tôi ngồi nghe mà cười đau hết cả ruột.

Vì Corine bận làm luận án thạc sĩ, tôi nói chuyện với Mika nhiều hơn. Anh hiền khô và tốt bụng kinh khủng. Biết người nước ngoài không mua được SIM ở Ethiopia, anh mua một SIM để ai đến ở nhờ nhà anh thì anh cho mượn. Biết tôi hết tiền, anh chỉ cho tôi cách kiếm tiền.

- Em viết tốt thế lên oDesk nhận việc về mà làm. Đầy công việc viết lách.

- oDesk là gì anh?

- Trời, trang web lớn như thế mà em không biết à?

Đùa anh chút cho vui, tôi mang tiếng làm việc trên internet bao nhiêu năm mà lại phải để một bạn người châu Phi dạy về cái này à? oDesk là trang về việc làm tự do lớn nhất thế giới. Các công việc trên này chủ yếu là lập trình, thiết kế, viết lách. Tôi tạo một hồ sơ, giới thiệu về kỹ năng của mình rồi apply một số công việc nhưng chẳng có ai nhận tôi cả. Mika bảo tôi phải kiên trì. Những người mới thường khó tìm việc hơn vì hồ sơ của họ chưa có gì để làm chứng. Hơn nữa công việc ở đó tuyển rất nhanh. Người ứng tuyển hầu như lúc nào cũng phải online trong khi tôi không có internet thường xuyên. Internet ở Ethiopia vẫn do nhà nước độc quyền nên rất đắt đỏ. Nhà Mika chỉ có một cục 3G, khi nào anh không dùng thì tôi mới mượn được. Tôi quyết định vẫn nộp đơn trên oDesk nhưng vẫn ra ngoài tìm thêm việc. Yêu cầu của tôi rất đơn giản: chỉ cần đủ tiền ăn và tiết kiệm được một chút là được. Mika bảo có thể cho tôi ở nhà miễn phí đến khi nào tôi có đủ tiền đi tiếp.

Chiến lược tìm việc của tôi cũng rất đơn giản: ra đường thấy đâu có việc thì xin. Những chỗ có thể có việc cho tôi là các nhà hàng, quán cà phê, khách sạn. Lý do đầu tiên là những công việc này thường không đòi hỏi quá cao, có thể làm thời gian ngắn mà không cần work permit (giấy phép làm việc). Lý do khác là tôi thích những công việc dịch vụ thế này: nhẹ nhàng, không phải nghĩ nhiều mà lại cho tôi cơ hội quan sát người dân bản xứ. Đến đâu xin việc người ta cũng tưởng tôi nói đùa.

- Em là faranji mà lại phải xin việc ở Ethiopia à?

- Faranji hết tiền thì cũng phải làm việc chứ.

- Faranji mà lại hết tiền à?

Người ta phá lên cười “Faranji” trong tiếng Amheric có nghĩa giống “Tây” trong tiếng Việt mình vậy. Giống như nhiều người Việt Nam mặc định Tây là giàu, người Ethiopia mặc định cứ “faranji” là có tiền. Nghĩ ra cũng có lý. Cứ ai có tiền đến được nước họ là giàu hơn họ rồi. Tôi bị từ chối không phải vì tôi không làm được việc, mà vì “chỗ này xấu xấu bẩn bẩn, không xứng để cho một faranji như em làm”. Chán nản, tôi uể oải bước vào một quán cà phê ở cuối đường. Cả ngày hôm nay đi bộ nên chân tôi đã mỏi nhừ. Anh chủ quán sau khi nghe tôi kể lể thì rất thông cảm. Anh bảo là anh sẽ xem xét.

- Em không ngại việc chân tay đâu. Cho em làm bồi bàn cũng được.

- Không, không, faranji như em sao lại đi phục vụ bàn. Em có biết về marketing không?

Marketing thì đúng nghề của nàng. Sau khi nghe xong về kinh nghiệm làm việc của tôi, anh chủ quán rất hào hứng. Anh bảo anh cần người phụ trách marketing, giúp anh tổ chức các sự kiện cho quán.

- Nếu em chịu, em có thể bắt đầu làm việc ngay với mức lương tám trăm birr một tháng. Ăn hai bữa quán lo. Chỗ ở anh sẽ sắp xếp cho em.

Tám trăm birr tức là khoảng năm mươi đô lúc bấy giờ. Như vậy, nếu chỉ  làm việc mà không tiêu bất cứ một thứ gì, tôi phải làm khoảng bốn tháng mới có thể tiết kiệm được hai trăm đô. Ấy là mức lương đấy đã cao hơn rất nhiều mức trung bình của công việc mà ban đầu tôi định xin. Nói chuyện nhiều với những người phục vụ bàn ở đây, tôi được biết thu nhập hàng tháng của họ khoảng ba trăm birr. Tôi thực sự không hiểu làm thế nào mà người ta sống được chỉ với mức thu nhập đó. Nhưng rồi nghĩ lại, con người là một loài có khả năng thích ứng vô cùng mãnh liệt. Kiếm được nhiều, tiêu nhiều. Kiếm được ít, tiêu ít. Ngày trước học cấp ba, một mình ở Hà Nội, tôi nhớ mình cũng chỉ tiêu hết ba trăm nghìn một tháng.

Tôi cảm ơn anh chủ quán, nói rằng mình sẽ suy nghĩ về lời đề nghị này rồi đi bộ về nhà Mika.

4. Thịt sống mềm mềm, lành lạnh

Vì internet ở Ethiopia quá khan hiếm, bất cứ nơi nào có wifi miễn phí đều trở thành huyền thoại. Huyền thoại gần nhà Mika nhất là khách sạn Jupiter. Đến đây, mọi người có thể gọi một ly trà khoảng mười tám birr và ngồi cả ngày dùng wifi của khách sạn. Một buổi chiều buồn buồn đang ngồi viết lách linh tinh thì tôi nhận được tin nhắn trên CouchSurfing từ một anh chàng tên là Hermann. Anh bảo anh vốn sinh ra ở Addis Ababa nhưng sau một thời gian dài lưu lạc, anh quay trở lại đây để nhận ra rằng hoặc là Addis đã thay đổi quá nhiều, hoặc là trí nhớ của anh quá kém nên anh cần phải khám phá lại thành phố này. Anh nghĩ, cách tốt nhất để khám phá là trò chuyện với những người cũng đang khám phá nó.

Ah, tôi thích cách viết của anh chàng này. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở quảng trường Mexico. Mặc dù quảng trường rộng thênh thang và đông vui là thế, tôi vẫn có thể nhận ra anh từ cách cả chục mét. Tôi không hay dùng từ này để miêu tả ai đó tôi gặp trên CouchSurfing nhưng Hermann khá là lịch lãm. Anh khoác một chiếc áo măng tô thanh nhã, đi giày da, đôi mắt sáng lấp lánh sau cặp kính cận, mái tóc xoăn đỏ nhô hẳn lên giữa quảng trường. Nhìn anh giống một nhà thiết kế thời trang trong một góc phố nào đó ở châu Âu hơn là một tâm hồn lưu lạc trên CouchSurfing.

- Nhìn anh không giống người Ethiopia.

- Ừ. Bố đẻ anh là người Ý.

Một câu trả lời vài chữ thôi mà bao nhiêu thông tin. Tôi muốn hỏi chuyện gì xảy ra với bố đẻ của anh nhưng nghĩ nó hơi riêng tư cho lần gặp đầu tiên nên lại thôi. Ý - Ethiopia là một mối tương quan phức tạp mà một con bé hiểu biết lịch sử chẳng đến đâu như tôi không dám bàn luận. Ý đã mang quân sang xâm chiếm Ethiopia nhưng thất bại sau năm năm và người Ethiopia rất tự hào rằng họ là quốc gia duy nhất ở châu Phi chưa từng bị đô hộ. Mặc dù chỉ có mặt ở Ethiopia năm năm, Ý đã kịp để lại không ít ảnh hưởng của mình lên đất nước này: người Ethiopia uống cà phê macchiato hàng ngày; pizza ở Ethiopia thì cực ngon và người ta gọi trung tâm Addis Ababa là Piassa theo tiếng Ý. Một di sản quan trọng khác của người Ý nơi đây đó là những đứa con lai Ý - Ethiopia. Tôi muốn hỏi về dòng máu Ý của anh, về việc người Ý sống ở Ethiopia những năm chiến tranh nhưng sợ không dám hỏi. Thấy mặt tôi cứ nghệt ra, anh như đọc được suy nghĩ của tôi, phá lên cười:

- Từ từ anh sẽ giải thích cho em. Em uống trà Ethiopia chưa? Hồi còn đi học có một quán trà anh hay ngồi, không biết giờ còn mở không.

Chúng tôi đi vào một con hẻm nhỏ, đến một cái quán nhỏ, ngồi xuống mấy cái ghế nhỏ ngoài vỉa hè nhìn ra đường. Có lẽ cả tôi và Hermann đều trông chẳng giống ai nên mọi người cứ nhìn hai đứa tôi cười khúc khích. Trà Ethiopia rất thơm, nồng nàn vị đinh hương, bạch đậu khấu và quế. Người dân nơi đây uống trà với đường, rất nhiều đường, ngọt lịm đến mức đầu lưỡi tôi cứ mềm nhũn ra. Thông thường, trà ở đây uống kèm bánh mỳ. Bẻ bánh mỳ ra, nhúng vào trà ăn như kiểu chấm bánh mỳ với sữa. Chỉ vậy thôi là người Ethiopia đã có một bữa sáng ngon lành. Uống trà xong, bất chợt anh hỏi:

- Bụng của em thế nào?

- Nhiều mỡ.

- Ha ha ha, cái đấy thì anh biết - Anh chàng cười nhăn nhở - Ý anh là em ăn uống có hay bị ngộ độc không?

- Không, em đến từ Việt Nam nên miễn dịch với ngộ độc thực phẩm rồi.

- Tốt. Vậy bây giờ anh sẽ dẫn em đi ăn món truyền thống của Ethiopia. Đây được coi là một trong những món ăn sang trọng nhất. Hồi anh còn nhỏ, chỉ có dịp đám cưới hay lễ hội người ta mới phục vụ món này.

Nghe đến đồ ăn là tôi sáng mắt lên, nuốt nước miếng ừng ực, chẳng cần hỏi thêm gì nữa, gật đầu cái rụp. Anh dẫn tôi đến một cửa hàng le lói ánh nến và giải thích ở Addis Ababa, mất điện là chuyện thường ngày ở huyện. Phía ngoài cửa hàng treo lủng lẳng từng tảng thịt bò tươi rói với từng tràng nội tạng, cạnh đó là một người đàn ông mặc áo choàng trắng kiểu bác sĩ bê bết máu, tay mài dao lia lịa. Phía trong lác đác vài cái bàn nhựa. Người bán hàng hỏi tôi muốn ăn phần nào, tôi chỉ đại vào một miếng nhìn ít mỡ.

- Hai đứa ăn bao nhiêu?

- Nửa cân anh nhé - Hermann trả lời.

Anh bán hàng lấy con dao to đúng nghĩa dao mổ bò, xẻo ngay lấy một miếng nửa cân bắp bò. Sau đó anh cắt miếng thịt ra thành từng miếng vuông vức như viên súc sắc, bỏ vào đĩa mang ra bàn cùng với một đĩa muối ớt.

- Ủa, thế mình phải tự nấu à? - Tôi ngơ ngác.

- Hừ! Nấu làm gì! Thịt bò phải ăn sống thế này mới ngon. Ớt này cay lắm, đảm bảo giết chết hết mọi vi khuẩn.

Như để làm chứng, Hermann nhón một viên thịt đỏ hỏn, chấm vào đĩa muối ớt, cho lên miệng, nhai ngấu nghiến rồi nuốt. Anh xuýt xoa:

- Ngon thật. Lâu lắm rồi anh không được ăn thịt sống. Cả Addis Ababa chỉ có quán này là đảm bảo nhất, thịt tươi nhất. Tere Sega mà ăn ở quán nào thịt ôi thì thôi xong.

Tôi bị khựng lại mất khoảng ba mươi giây, không biết nên nghĩ thế nào hay nên làm gì. Đây là món ăn mà anh kể với tôi sao? Món ăn sang trọng nhất của Ethiopia á?

- Em không ăn được thịt sống à?

- Đây chỉ là một câu hỏi tu từ thôi đúng không?

Hermann phá lên cười. Thực sự lúc mới gặp, có đấm vào mặt tôi cũng không thể hình dung ra một anh chàng lịch lãm như Hermann lại có thể ngồi ăn thịt sống ngon lành đến thế.

- Bọn bạn anh ở châu Âu nghe anh nói đến thịt sống thì sợ chết khiếp. Nhưng anh thấy nó bình thường. Từ nhỏ anh đã ăn món này. Mọi người xung quanh anh đều ăn món này mà có ai bị làm sao bao giờ đâu.

Có vẻ như sau bao nhiêu năm lưu lạc ở trời Tây, anh vẫn giữ nguyên cho mình những thói quen rất Ethiopia. Tự nhiên tôi có cảm tình với anh. Nói chung, tôi rất ác cảm với những ai hồi nhỏ ăn mắm tôm rồi đi Tây vài năm về lại giả bộ nhăn mặt khi nhắc đến nó. Nhìn xung quanh, đúng là mọi người cũng đang bốc thịt sống ăn hồn nhiên như thể đây là điều bình thường nhất trên thế giới vậy.

- Người Ethiopia ăn được thì em cũng ăn được - Tôi bảo anh.

Rồi tôi cũng nhón một miếng, chấm thật nhiều muối ớt, nhắm mắt nhắm mũi cho lên miệng. Không hẳn là dai cũng không hẳn là nát, cứ mềm mềm, lành lạnh, ươn ướt. Vị thì ngòn ngọt, tanh tanh làm tôi liên tưởng đến máu. Ờ nhỉ, ở Việt Nam mình cũng ăn tiết canh, nghĩ ra còn đáng sợ hơn ấy chứ.

5. Quyết tâm vào South Omo

(Awassa - Shashemene - Sodo - Arba Minch - Konso)

Mika kêu tôi khùng, sang một châu lục mới mà chẳng có một quyển sách hướng dẫn du lịch nào.

- Cơ bản em không thích rơi vào cái bẫy của sách hướng dẫn du lịch, chỉ đi đến những nơi người ta chỉ cho mình đến. Em thích sự bất ngờ - Tôi cãi cố.

- Thế tức là nếu bây giờ anh đưa cho em một quyển guidebook em cũng không lấy luôn hả?

- À, đấy lại là chuyện khác. Anh có sách à? Đưa em đọc đi - Tôi cảm giác như da mặt mình vừa dày thêm vài chục centimét.

- Ừ, nhưng em giữ cẩn thận nhé còn để cho các bạn đến sau em đọc.

Tôi hí hửng cầm quyển sách Bradt Guide cho Ethiopia, lật vội một lượt các trang. Tôi sững lại khi nhìn thấy bức ảnh chụp ngang một người phụ nữ tóc xoăn dính sát đầu, gần như trọc, da đen bóng, mắt nhìn thẳng, hiên ngang thách thức. Môi dưới chị tách rời hẳn ra, treo lủng lẳng ngang cằm. Cạnh đó là một bức ảnh mà cái môi tách rời đó đã được lấp kín bằng một cái đĩa to như đĩa ăn cơm, bập bênh trước khuôn mặt người phụ nữ như cái mỏ chim nối dài vậy. Tôi thấy đau nhói ở trên môi, như thể chính môi của tôi cũng bị cắt rời, kéo căng ra để nhét vừa cái đĩa ấy. Tôi đọc thêm thì được biết đây là tiêu chuẩn cái đẹp của họ. Phụ nữ có đĩa càng to thì của hồi môn càng nhiều. Vẫn biết văn hoá là khác biệt và tôi tôn trọng văn hoá những nơi tôi đã đi qua. Nhưng như thế này thì thực sự ám ảnh quá. Tôi quyết định sẽ tìm đến bộ tộc này. Đây là bộ tộc Mursi ở South Omo, thung lũng tận cùng phía Tây Nam của Ethiopia. Sách Bradt ghi một dòng chữ to đùng: “Tự đi đến South Omo là một điều không tưởng. Ngoại trừ một số làng nhỏ nằm rải rác theo trục đường Konso - Jinka, tất cả các ngôi làng còn lại đều không thể đến chỉ bằng đi bộ hay bằng các phương tiện công cộng”. Các sách hướng dẫn du lịch gợi ý việc đi tour hoặc thuê một chiếc xe land cruiser. Một chiếc land cruiser với người lái tốn không dưới một trăm đô một ngày, trong khi một tour đi trong một tuần tốn không dưới một nghìn hai trăm đô. Cả hai lựa chọn này hiển nhiên đều không dành cho tôi. Nói chuyện với một số dân ba lô ở Ethiopia tôi nhận ra rằng tất cả mọi người đều lảng tránh South Omo.

“Nếu em muốn ném tiền qua cửa sổ thì cứ đi đi,” một cô gái Slovakia bảo tôi. Cô đã xuống tận Awassa, nửa đường xuống phía Nam nhưng rồi lại quay về. Đi ba lô ở đấy nghe cứ như là truyện cổ tích vậy.

Đúng lúc đấy, tôi được biết Fidel, bạn nhai “khat”(*) của Hermann đang có lịch xuống Awassa. Một ý tưởng chợt loé lên trong đầu tôi. Tôi xin Fidel cho đi ké xuống Awassa.

____________

(*) Khat: Một loại lá có tính kích thích làm quên cảm giác đói và mệt.

- Awassa đẹp lắm, em nên đến thăm. Nhưng anh chỉ ở đấy mấy tiếng thôi đấy - Fidel bảo tôi.

- Dạ không sao. Anh cho em đi nhờ xe xuống đấy thôi, em sẽ đi thăm thú ở quanh khu đó.

Ở Awassa, chúng tôi tình cờ gặp Alex, một anh chàng lập dị người Ireland hiện đang xây dựng một khu nghỉ dưỡng sinh thái ở Konso. Anh chàng chỉ cười khẩy khi tôi nói với anh kế hoạch của mình.

- Em định đi xuống South Omo như thế nào? Đi bộ từ làng này đến làng kia tốn hàng ngày trời.

- Em sẽ đi nhờ xe.

- Ha ha ha, thế thì chúc em may mắn nhé - Anh chàng cười chán chê rồi phủi mông đứng dậy. Fidel lo lắng ra mặt:

- Em có chắc là em muốn làm điều đó không? Đấy là một khu vực vẫn còn hoang sơ mọi rợ. Ở đấy không có điện, không có nước. Người dân không nói tiếng Anh, họ thậm chí còn chẳng biết chữ. Em có thể bị cướp, bị tấn công mà chẳng có thể kêu gọi sự giúp đỡ từ ai cả.

- Insha’Allah(1).

____________

Fidel cốc cho tôi một cái rõ đau vào đầu trước khi quay trở lại Addis Ababa.

Không có nhiều thông tin về đi lại ở South Omo cho những kẻ lữ hành độc lập. Thậm chí tìm được một cái bản đồ vẽ vội ở trên mạng cũng đã là một kỳ tích. Từ những thông tin tìm hiểu được ở những người tôi gặp, tôi được biết Konso và Jinka là hai căn cứ phổ biến nhất để khám phá thung lũng. Tôi chọn Konso vì nó gần hơn. Sau hai ngày hành xác trên xe chợ, đi qua đủ loại địa hình nhìn gần giống như là đường, ngủ qua đêm trong một nhà nghỉ không điện, không nước với nhà vệ sinh ở cách đó phải vài trăm mét ở Arba Minch, cuối cùng tôi cũng đến được Konso vào lúc hoàng hôn. Tôi cứ đinh ninh rằng ông lái xe lừa mình đây. Người ta gọi đây là thành phố ư!!? Cả thành phố chỉ bao gồm một tá ngôi nhà xập xệ và vài khách sạn tồi tàn tản mát xung quanh trạm xăng. Tôi tìm cho mình căn phòng rẻ nhất có thể ở khách sạn St. Mary, sau khi đã cãi nhau một trận nảy lửa với chủ khách sạn để lấy được giá chuẩn chứ không phải giá cho faranji. Những ai đã từng đến Ethiopia chắc chắn sẽ nghe từ này rất nhiều. Ở đây, nếu bạn là người nước ngoài, người ta sẽ đi theo bạn và luôn miệng: “Faranji, money, faranji, money”. Bởi vì tôi là faranji duy nhất ở khách sạn này nên tôi đi sang khách sạn cạnh đó để nói chuyện với các khách du lịch khác, hy vọng tìm kiếm được thông tin có ích. Tôi gặp một người đàn ông trung niên người Mỹ đi một mình và Sylvain, một anh chàng người Pháp đi theo nhóm. Cả hai đều đi xe land cruiser.

- Khỉ thật. Chắc em là người nghèo duy nhất đi vào đây quá.

- Yeah - Sylvain cười khúc khích - Em là người đầu tiên anh gặp mà không có xe đấy.

- Cái anh nghĩ em nên làm là tìm ai đó giống như bọn anh - Người đàn ông trung niên chỉ vào mình rồi chỉ vào Sylvain - Và xin đi nhờ xe. Tiếc là bọn anh đã thăm hết cả thung lũng rồi, mai là lên đường quay trở lại Addis Ababa thôi.

Hoá ra tôi đã chọn nhầm chỗ để bắt đầu. Bởi vì tất cả mọi người đều đi theo tour, tất cả mọi người đều có cùng một lịch trình: Addis Ababa - Arba Minch - Jinka - làng người Mursi - Turmi - Key Afar - Konso - Arba Minch - Addis Ababa. Tuy không đi nhờ xe được với họ nhưng tôi lấy được rất nhiều thông tin quý báu về các bộ tộc, về những ngôi làng truyền thống và quan trọng nhất là thông tin về thứ mà tất cả khách du lịch ở đây đều săn tìm: chợ phiên truyền thống. Người ta chỉ họp chợ một hay hai lần một tuần ở mỗi thị trấn. “Em phải đến xem chợ phiên. Nó không giống bất cứ một thứ gì ở thế giới hiện đại cả. Cứ như thể là em bị lôi ngược trở lại thời kỳ bộ lạc vậy”.

Vậy là không có gì tôi có thể làm ở thời điểm đó. Nếu muốn đi nhờ xe với khách du lịch, tôi phải khởi đầu ở Jinka, khoảng ba đến bốn trăm kilômét phía Nam Konso. Tôi nói chuyện với hai anh chàng và nhóm bạn của họ thêm một lúc nữa rồi cáo lui về khách sạn để nghỉ ngơi sớm. Từ ngày mai, tôi sẽ một mình dấn thân vào lãnh thổ xa lạ của South Omo, một trong những khu vực khó tiếp cận nhất trên thế giới, cái nôi của nhân loại.

- Ta ba lô ở South Omo - Sylvain nhún vai khi chúng tôi chia tay - Chúc em may mắn.

Cảm ơn anh. Đó chính xác là những gì mà em cần đấy.

6. Ngày 1: Konso - Weyto - Key Afar - Jinka

Hoá ra phân trâu bò khô hoà nước sẽ có mùi như thế này.

Tôi ngồi co ro trong một góc ở phía sau xe tải, cúi gập người xuống để tấm bạt xanh có thể trùm qua người, nước mưa hoà phân trâu, phân bò chảy ròng ròng từ trên đầu, trên cổ xuống mũi, xuống miệng. Tôi cố gắng tập trung đầu óc mình vào những chuyện khác để không nôn. Xung quanh tôi, mọi người vẫn rôm rả trò chuyện, thỉnh thoảng còn cười ré lên. Tôi thực sự không biết họ đến từ bộ tộc nào. Không ai nói ngôn ngữ nào mà tôi biết, cũng không ai có cách ăn mặc hay có kiểu tóc nào mà tôi thấy quen quen